Cội Nguồn Ngôi Đình Cổ Bình Thủy

Theo các tài liệu nghiên cứu chính thống thì cách nay ba trăm năm, vị trí đình Bình Thủy tọa lạc được gọi là làng Bình Hưng, thuộc tổng Định Thới, huyện Vĩnh Định, phủ Ba Xuyên, tỉnh An Giang. Khi đó, làng có sáu thôn. Vào năm 1844, một trận bão lụt dữ dội, nhà cửa ruộng vườn tiêu tan, nạn đói hoành hành. 

Sau trận thiên tai đó, người dân tự lập một ngôi miếu bằng tre gỗ, lợp lá tại vàm rạch thờ thành hoàng để cầu bảo hộ, an lành. Miếu được gọi tên là "Long Tuyền cổ miếu". Nếu cái tên này hoàn toàn chính xác thì vào năm 1844, làng cổ Bình Hưng đã từng có một ngôi miếu từ trước rất lâu.

Thuở đó, đoạn sông này có tên là Long Tuyền giang. Bởi khúc sông này có hình dáng như con rồng nằm uốn khúc, vàm sông giống như miệng rồng há toác ra ngoạm trái châu là đất cồn Linh. Bốn rạch tỏa ra như bốn chân rồng. Đoạn đuôi thon thon nằm vắt tận cuối làng.

Cũng theo các tài liệu nghiên cứu của địa phương, thời Vua Tự Đức năm thứ năm, tức năm 1852, quan Khâm sai đại thần là Huỳnh Mẫn Đạt, được vua phái đi tuần thú an dân khu vực này. Quan Khâm sai cùng đoàn tùy tùng đi thuyền dọc theo sông Hậu. Khi thuyền gần đến cồn Linh nơi đầu vàm rạch Long Tuyền, thì gặp một trận cuồng phong tạo thành lốc xoáy lớn trên mặt sông. 

Sóng hung dữ cuốn cao như muốn nhấn chìm đoàn thuyền xuống lòng sông. Trước tình thế nguy cấp, quan Khâm sai khấn thần linh độ mạng, rồi lệnh cho thủy binh ra sức chèo thẳng vào vàm ẩn nấp. Mặc dù, bên ngoài sông sóng cả phẫn nộ dập dềnh nhưng bên trong vàm mặt nước lặng lờ bình yên. Đoàn thuyền bình an vô sự.

Thoát nạn, quan Khâm sai bèn hạ lệnh cho binh sĩ lên bờ lập đàn cúng tế thần đất, rồi mở tiệc khoản đãi dân làng suốt ba ngày và tuyên bố đổi tên cồn này thành làng Bình Thủy. Sau chuyến công cán, quan Khâm sai đại thần Huỳnh Mẫn Đạt dâng sớ lên Vua Tự Đức xin ban sắc phong thần cho làng Bình Thủy (mang nghĩa vùng nước lặng).
Từ sớ cầu xin của Khâm sai Huỳnh Mẫn Đạt, ngày 29.11.1852 năm Nhâm Tý, Vua Tự Đức hạ chiếu ban sắc phong cho vùng đất Bình Thủy, tức Bình Hưng cũ:

"Sắc Bổn cảnh Thành hoàng chi thần. Nguyên tặng Quảng hậu chánh trực hựu thiện chi thần, hộ quốc tri dân nẫm trứ linh ứng tứ kim phi ưng cảnh mạng miến niệm thần hưu khả gia tặng Quảng hậu chánh trực hựu thiện đôn ngưng chi thần. Nhưng chuẩn Phong Phú huyện Bình Thủy thôn y cựu phụng sự thần kỳ tương hựu bảo ngã lê dân. Khâm tai. Tự Đức ngũ niên thập nhất nguyệt nhị thập cửu nhật". 

Tạm dịch nghĩa là: 

"Sắc phong chức Bổn cảnh Thành hoàng. Vì sự quảng hậu chánh trực, ngươi đã phù hộ quốc gia, bảo vệ dân chúng từ xưa đến nay. Lệnh ban cho ngươi danh hiệu Thành hoàng Bổn cảnh thuộc huyện Phong Phú, làng Bình Thủy. Ngươi lãnh trách nhiệm như cũ, săn sóc và giúp đỡ dân chúng của ta. Tự Đức năm thứ 5 ngày 29.11". 

Theo tích đó thì làng Bình Hưng được Tự Đức chuẩn y đổi tên thành làng Bình Thủy và được phong sắc Thành hoàng Bổn cảnh, cho vùng đất linh Bình Hưng, vào năm 1852.

Sau khi có sắc phong của nhà vua, cư dân địa phương đã cùng nhau tôn tạo ngôi miếu Long Tuyền tre lá thành ngôi đình tường vôi, mái ngói. Theo tên đất và theo sắc vua ban, ngôi đình cũng mang tên mới là đình Bình Thủy. Lần nâng cấp này, ngôi đình được xây thêm ngôi võ ca (Nhà hát bộ, trong đó có một sân khấu nhỏ, thấp, bằng gỗ để cho các đoàn hát đến biểu diễn). 

Đến đầu thế kỷ XX, do chia tách địa giới hành chính, vùng đất tọa lạc của ngôi đình Bình Thủy lại đổi tên thành làng Long Tuyền nhưng đình vẫn mang tên Bình Thủy. Vào năm 1904, quan Tri phủ Nguyễn Đức Nhuận thấy đình xuống cấp, rệu rã sắp sập nên đề nghị dân làng cất lại ngôi đình ở ngã tư trên sở đất của làng rộng 2,9 ha.

Lần xây dựng này, ông La Xuân Thanh là một phú hộ địa phương, đã hiến tặng tiền của và chỉ huy công trình xây dựng. Không may, giữa lúc công trình xây dựng còn dang dở, thì quan Tri phủ bệnh nặng rồi qua đời. Việc xây dựng ngôi đình tạm đình chỉ. Không hiểu vì sao, không ai tiếp tục công việc xây dựng sau khi Tri phủ qua đời.
Mãi đến năm 1909, ông Cả Nguyễn Doãn Cung (Chủ làng) bắt tay cùng sui gia là một địa chủ giàu có cùng góp tiền, của và công sức xây dựng ngôi đình trên nền cũ tại vàm sông. Theo các tài liệu nghiên cứu thì chi phí xây dựng lần này lên đến 5.823 đồng Đông Dương. Thời điểm này, một giạ lúa có giá khoảng một hào. Tức là công trình xây dựng lần này tương đương giá trị 5.800.000 giạ lúa. 

Công việc xây dựng được khởi công từ ngày 12.7.1909 đến năm 1910 thì hoàn thành. Công trình do ông Huỳnh Trung Trinh thiết kế. Không có tài liệu nào kể về tiểu sử ông Huỳnh Trung Trinh. Nhưng căn cứ vào kết cấu kiến trúc ngôi đình, người ta thấy đình Bình Thủy có nét tương đồng với những ngôi nhà gỗ, được xây dựng cùng thời điểm trong khu vực.

Có lẽ, ông Huỳnh Trung Trinh là nhóm thợ Lỗ Ban, được mời từ miền Trung về vùng Đại Điền, Bến Tre xây cất một loạt các ngôi phủ gỗ cho Đốc phủ Kiểng, ông Phó Hoài, ông Hương Liêm. Ngày nay, di tích phủ gỗ gồm sáu ngôi nhà của ông Hương Liêm, mà người ta gọi là Huỳnh phủ vẫn tồn tại ở Bến Tre.

Căn cứ vào bức hoành phi mừng tân gia Huỳnh phủ, do tri huyện Bảo An họ Võ vẫn còn hiện hữu, thì ngôi phủ được hoàn thành vào năm 1904. Có lẽ, nhóm thợ Lỗ Ban này đã được mời đi xây cất liên tục các ngôi phủ khác, trong đó có ngôi đình Bình Thủy. 

Nhóm thợ Lỗ Ban này rất tỉ mỉ trong việc chạm khắc gỗ. Thợ được tính tiền công mỗi ngày bằng hình thức đong dăm bào bằng chén ăn cơm. Những thân cột trong đình Bình Thủy cũng như của các ngôi phủ, được thợ đi vào rừng sâu tìm kiếm, lựa chọn cẩn trọng trước khi đốn hạ đem về xây cất.

Lần xây dựng năm 1909, đình Bình Thủy có thêm hai ngôi miếu thờ Thần Nông và Thần Hổ. Trong tất cả những lần xây dựng, bộ da Thần Hổ vẫn luôn được lưu giữ thờ phụng trong đình.


Nhận xét